Hành trình 75 năm xây dựng và phát triển của ngành Ngân hàng luôn gắn liền với những bước chuyển quan trọng của nền kinh tế đất nước. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, đặc biệt khi năm 2026 mở đầu giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, điều hành chính sách tiền tệ đứng trước yêu cầu ngày càng lớn: vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống, vừa dẫn dắt và phân bổ hiệu quả dòng vốn cho nền kinh tế. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN Việt Nam Phạm Đức Ấn đã có chia sẻ với phóng viên Thời báo Ngân hàng về mục tiêu, định hướng điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng trong giai đoạn mới hướng tới mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo hướng nhanh, bền vững, gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Thưa Thống đốc, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL ngày 6/5/1951 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, hành trình 75 năm xây dựng và phát triển của ngành Ngân hàng luôn gắn liền với những trang sử vẻ vang của dân tộc. Nhìn lại chặng đường ấy, xin Thống đốc cho biết đâu là những giá trị cốt lõi đã giúp ngành Ngân hàng hoàn thành tốt sứ mệnh và đóng góp vào sự phát triển của đất nước qua các thời kỳ?
Với quá trình 75 năm xây dựng và phát triển, với biết bao tâm huyết, trí tuệ và bản lĩnh vượt qua gian khó, kể cả những mất mát, hy sinh trong chiến tranh và giai đoạn sau hòa bình, các thế hệ cán bộ ngân hàng đã góp phần làm nên những thành tựu vẻ vang, đầy tự hào của ngành Ngân hàng Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường đó, có thể thấy những giá trị cốt lõi của Ngành được hun đúc đặt nền móng ngay từ những ngày đầu của nền tài chính - tiền tệ cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền cách mạng là từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ - công cụ quan trọng để xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, bước ngoặt lịch sử, mở ra thời kỳ phát triển mới của lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng ở nước ta là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã được thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL ngày 6/5/1951 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay từ khi thành lập, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã đảm nhiệm những trọng trách then chốt như phát hành tiền, quản lý ngân sách, cung ứng tín dụng và tham gia đấu tranh tiền tệ với địch. Trong hai cuộc kháng chiến, ngành Ngân hàng không chỉ làm nhiệm vụ kinh tế mà còn trực tiếp góp sức trên mặt trận tài chính - tiền tệ, với những đóng góp thầm lặng nhưng đặc biệt quan trọng, tiêu biểu là “Con đường tiền tệ” huyền thoại, góp phần chi viện nguồn lực cho chiến trường, làm nên thắng lợi chung của dân tộc.
Sau năm 1975, ngành Ngân hàng tập trung khôi phục hệ thống, thống nhất tiền tệ và cung ứng vốn cho công cuộc tái thiết. Bước ngoặt lớn diễn ra từ thời kỳ Đổi mới, khi Nghị định 53-HĐBT năm 1988 chính thức thiết lập hệ thống ngân hàng hai cấp, đặt nền móng cho sự hình thành hệ thống ngân hàng hiện đại.
Tiếp đó, năm 1990, hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng trong cơ chế mới. Trên nền tảng đó, hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện với việc ban hành các Luật Ngân hàng năm 1998 và đặc biệt là Luật NHNN Việt Nam, Luật Các TCTD năm 2010 đánh dấu bước phát triển toàn diện, tiệm cận chuẩn mực quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Từ đó đến nay, ngành Ngân hàng đã khởi xướng, đề xuất nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phù hợp với yêu cầu và thực tiễn phát triển của đất nước, nhờ đó đã góp phần quan trọng đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước ổn định giá trị đồng tiền, tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện đời sống nhân dân, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động huy động vốn và tín dụng ngày càng linh hoạt, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, doanh nghiệp trên mọi thành phần kinh tế, đặc biệt chú trọng khu vực nông nghiệp, nông thôn. Mạng lưới ngân hàng được mở rộng, rộng khắp, phủ đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với đó, hệ thống ngân hàng đã không ngừng mở rộng quy mô, đa dạng hóa hoạt động và dịch vụ, từng bước hiện đại hóa công nghệ, phát triển mạnh các phương thức thanh toán qua ngân hàng, nhất là thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số mạnh mẽ.
Không chỉ đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, ngành Ngân hàng ngày càng khẳng định vai trò trong tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc mở rộng hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhìn lại chặng đường 75 năm, có thể thấy rõ, những thành tựu của ngành Ngân hàng được hình thành từ nhiều yếu tố, trong đó cốt lõi là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước, cùng với bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần cống hiến quên mình của các thế hệ cán bộ ngân hàng. Từ những ngày đầu đầy gian khó, các thế hệ cán bộ ngân hàng đã làm nên những dấu ấn đặc biệt như “ngân hàng không khóa”, “con đường tiền tệ huyền thoại”. Trong suốt quá trình phấn đấu gian khổ đó, nhiều thế hệ cán bộ Ngân hàng đã nêu cao phẩm chất cách mạng cần, kiệm, liêm, chính; nỗ lực thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của Ngành. Đã có hàng vạn tấm gương sáng ngời trong phong trào thi đua yêu nước của ngành Ngân hàng, có hàng trăm cán bộ ngân hàng đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trên nhiều mặt trận.
Tiếp nối truyền thống đó, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, đội ngũ cán bộ ngân hàng không quản ngại khó khăn, sẵn sàng đương đầu với thử thách, phát huy cao độ bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần sáng tạo và đổi mới tư duy, không ngừng nỗ lực xây dựng hệ thống ngân hàng ngày càng lớn mạnh về mọi mặt, tiến gần hơn đến các thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, những năm gần đây, ngành Ngân hàng đã chủ động đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ, đổi mới mô hình hoạt động và phương thức cung ứng dịch vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh mới, ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy truyền thống, giữ vững vai trò là trụ cột ổn định kinh tế vĩ mô, dẫn dắt dòng vốn cho nền kinh tế; đồng thời kiên định mục tiêu đổi mới, phát triển, góp phần thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Trong hành trình phát triển, đặc biệt khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, NHNN đã thể hiện bản lĩnh, sự kiên định nhưng cũng rất linh hoạt trong điều hành. Thống đốc có thể chia sẻ rõ hơn những nguyên tắc điều hành mang tính xuyên suốt giúp ngành Ngân hàng ứng phó thành công với các biến động, vừa góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ giá trị đồng tiền, vừa khơi thông dòng vốn tạo xung lực cho tăng trưởng kinh tế, nhất là trong những giai đoạn nền kinh tế chịu áp lực bủa vây từ bên ngoài?
Một đặc điểm quan trọng chi phối công tác điều hành của NHNN là hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đóng vai trò là kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế. Điều này đặt ra thách thức cho việc thực hiện nhiệm vụ của NHNN: vừa điều hành chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô theo luật định, vừa triển khai các chương trình, giải pháp đáp ứng nhu cầu vốn để hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các lĩnh vực ưu tiên trong từng thời kỳ, các chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa từng có tiền lệ, NHNN vẫn luôn kiên định mục tiêu “ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng”, xác định rõ mục tiêu tại các chỉ thị hàng năm của Thống đốc NHNN. Mặc dù kiên định mục tiêu nhưng không có nghĩa là bất biến, máy móc mà là duy trì định hướng lớn, làm điểm tựa để củng cố niềm tin thị trường. Điều này đóng vai trò quan trọng, tiên quyết để định hướng kỳ vọng về một môi trường vĩ mô, tiền tệ ổn định, tạo cơ sở để doanh nghiệp, người dân yên tâm sản xuất, kinh doanh và đầu tư. Song song với đó, NHNN luôn thể hiện sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế, chủ động phân tích, dự báo, cân nhắc xây dựng kịch bản, phương án điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ và giải pháp CSTT, đúng thời điểm và với liều lượng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, phản ứng nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước.
Trên cơ sở đó, NHNN bám sát diễn biến thị trường để điều tiết, đảm bảo thị trường tiền tệ vận hành thông suốt, đáp ứng hợp lý nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; duy trì mặt bằng lãi suất phù hợp, điều hành tăng/giảm kịp thời nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; chỉ đạo các TCTD nâng cao hiệu quả quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm chi phí hoạt động; điều hành tỷ giá linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu CSTT, góp phần hấp thu các cú sốc từ bên ngoài trong bối cảnh thị trường quốc tế có những biến động phức tạp, đa chiều, cùng với công tác truyền thông minh bạch, ổn định tâm lý thị trường; định hướng tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả.
NHNN đã chủ động, tích cực chỉ đạo các TCTD triển khai nhiều chương trình, giải pháp nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong những thời điểm khó khăn. Đơn cử, trong giai đoạn đại dịch Covid-19 hay thiên tai, bão lũ lịch sử, NHNN đã kịp thời ban hành cơ chế chính sách, chỉ đạo TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi vay cho khách hàng vay vốn, qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn về dòng tiền, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống người dân.
Đồng thời, NHNN cũng yêu cầu các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi. Cùng với việc tăng cường cải cách thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong cấp tín dụng và tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp vay vốn với chi phí phù hợp.
Song song với đó, NHNN đẩy mạnh các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tổ chức các hội nghị thúc đẩy tín dụng tại nhiều địa phương nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn. Nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn tiếp tục được triển khai như chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được nâng quy mô lên 185.000 tỷ đồng (hiện đã hoàn thành mục tiêu đề ra); chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP của Chính phủ hay chương trình cho vay đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược… qua đó góp phần dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế, tạo xung lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao, trong khi kinh tế thế giới còn nhiều biến động khó lường, NHNN có định hướng, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ như thế nào để vừa góp phần ổn định vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống vừa khơi thông, phân bổ nguồn lực hiệu quả hỗ trợ tăng trưởng kinh tế?
Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai các mục tiêu phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, với yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số không chỉ là bình quân cả nhiệm kỳ mà phải đạt được theo từng năm, do đó về trách nhiệm của ngành Ngân hàng phải tiếp tục phát huy vai trò góp phần quan trọng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tối đa cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4,5% trong năm 2026, qua đó góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Cụ thể, NHNN điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở nhằm kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD; điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu điều hành; đồng thời yêu cầu các TCTD thực hiện nghiêm việc công khai lãi suất cho vay. Cùng với đó, NHNN theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế và trong nước để điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Về tín dụng, sau thời kỳ tăng trưởng tín dụng cao những năm vừa qua để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, đến nay quy mô tín dụng đã ở mức 145% GDP. Với khả năng huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng, NHNN sẽ thực hiện các giải pháp điều hành phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ; chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Song song với định hướng này, NHNN tăng cường cải cách thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong cấp tín dụng và các giải pháp khả thi để giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp vay vốn với chi phí phù hợp; đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cải cách hành chính và dịch vụ công trực tuyến, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời, NHNN chỉ đạo các TCTD nâng cao chất lượng hoạt động trên cơ sở tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả, quyết liệt xử lý nợ xấu, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, các giải pháp trên sẽ được triển khai một cách đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng thời bảo đảm an toàn và lành mạnh của hệ thống. Công tác theo dõi, đánh giá được thực hiện chặt chẽ thông qua cơ chế báo cáo định kỳ theo quý và hằng năm, gắn với việc chủ động đề xuất các giải pháp điều hành phù hợp với diễn biến thực tế. Bên cạnh đó, NHNN sẽ tăng cường vai trò chỉ đạo, điều hành, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới.
Nhìn từ chặng đường 75 năm, lãi suất luôn là công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, góp phần thúc đẩy tín dụng, nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trước diễn biến thị trường phức tạp, nhiều biến số khó lường, NHNN sẽ định hướng điều hành mặt bằng lãi suất như thế nào để vừa bảo đảm thanh khoản hệ thống, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý?
Thời gian gần đây, bối cảnh kinh tế quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là căng thẳng địa chính trị và áp lực lạm phát gia tăng đã tác động trực tiếp đến điều hành chính sách tiền tệ trong nước. Trong khi đó, nhu cầu vốn của nền kinh tế ở mức cao để phục vụ mục tiêu tăng trưởng, tạo áp lực không nhỏ đối với mặt bằng lãi suất.
Thực tế, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có xu hướng tăng trong thời gian qua, nhất là khi việc tăng lãi suất huy động chủ yếu nhằm thu hút vốn lẫn nhau giữa các TCTD, dẫn đến lãi suất cho vay tăng cao, ảnh hưởng đến khách hàng vay, đến hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trước tình hình này, NHNN đã kịp thời thiết lập kỷ luật thị trường, ổn định mặt bằng lãi suất, đảm bảo hài hòa lợi ích người gửi tiền và hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.
Tuy nhiên, với các yếu tố vĩ mô cũng như diễn biến quốc tế bất định, lãi suất vẫn chịu sức ép tăng, đòi hỏi trong thời gian tới, NHNN phải tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành lãi suất linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ, bảo đảm cân đối hài hòa giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Đồng thời, NHNN sẽ chỉ đạo các TCTD có các giải pháp tối ưu hóa chi phí, hiệu quả hoạt động để phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn; tăng cường công tác quản lý, giám sát và đồng hành cùng các TCTD trong quá trình triển khai, nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
Nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, đứng trước vận hội phát triển mới của đất nước, Thống đốc muốn gửi gắm thông điệp gì tới các thế hệ cán bộ ngân hàng để tiếp tục phát huy truyền thống, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu xây dựng một Việt Nam hùng cường?
Thay mặt Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban lãnh đạo NHNN, tôi xin gửi lời tri ân tới các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Ngân hàng trong 75 năm qua đã không ngừng nỗ lực, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, dệt nên trang sử vàng truyền thống vẻ vang của ngành Ngân hàng, đóng góp tích cực vào quá trình đấu tranh cách mạng, dựng xây và phát triển đất nước.
Phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang 75 năm xây dựng và phát triển, tôi đề nghị toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Ngân hàng tiếp tục noi gương các thế hệ cán bộ đi trước, nêu cao tinh thần đoàn kết, bản lĩnh, trí tuệ, đổi mới tư duy, tạo bước đột phá trên tất cả các mặt hoạt động, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV đã đề ra, đưa đất nước ta vào kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng.
Xin trân trọng cảm ơn Thống đốc!
Theo thoibaoinganhang.vn