• English

Tin thị trường

Đề xuất giảm mạnh thuế nhập khẩu linh kiện ô tô từ năm 2018 – 2022

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa đề xuất giảm mạnh thuế suất thuế nhập khẩu đối với linh kiện ô tô nhập khẩu theo chương trình ưu đãi thuế từ 1/1/2018- 31/12/2022, để lắp ráp cho nhóm xe chở người dưới 9 chỗ và xe tải có tổng trọng lượng có tải từ 5 tấn trở xuống.

ô tô nhập khẩu

Bộ Tài chính vừa xin ý kiến các bộ, ngành, hiệp hội doanh nghiệp (DN) vào dự thảo công văn báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xin ý kiến chỉ đạo về nội dung sửa đổi chính sách thuế nhập khẩu (NK) đối với linh kiện ô tô và thuế NK xe ô tô đã qua sử dụng, trước khi bổ sung nội dung này vào Tờ trình Chính phủ về dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 122/2016/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Biểu thuế xuất khẩu (XK), Biểu thuế NK ưu đãi.

Hai phương án giảm thuế

Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất 2 phương án giảm thuế NK đối với linh kiện ô tô NK trong 5 năm từ năm 2018-2022, có kèm theo điều kiện về sản lượng xe sản xuất lắp ráp (SXLR) và tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước của mẫu xe cam kết phải đạt được hàng năm, để lắp ráp cho 2 nhóm xe: Nhóm xe chở người dưới 9 chỗ, có dung tích xi lanh từ 2.000 cc trở xuống, tiêu hao nhiên liệu dưới 7lít/100km, tiêu chuẩn khí thải mức 4 (giai đoạn 2018-2021); mức 5 từ năm 2022 trở đi; và nhóm xe tải có tổng trọng lượng có tải từ 5 tấn trở xuống, tiêu chuẩn khí thải mức 4 (giai đoạn 2018-2021); mức 5 từ năm 2022 trở đi.

Cụ thể phương án 1: Giảm thuế suất thuế NK MFN của 163 dòng thuế linh kiện ô tô NK để lắp ráp cho 2 nhóm xe về 0%. Theo đó, giảm mức thuế suất trung bình của cả bộ linh kiện từ 14-16% xuống khoảng 7% đối với xe dưới 9 chỗ và khoảng 1% đối với xe tải dưới 5 tấn.

Trong WTO, mức cam kết giảm thuế cuối cùng đối với linh kiện, phụ tùng ô tô là từ 0% - 30% tuỳ theo linh kiện. Trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như ASEAN- Trung Quốc, ASEAN- Nhật bản...Việt Nam không cam kết giảm thuế NK đối với linh kiện, phụ tùng ô tô.

Trong các FTA, theo Hiệp định ATIGA Việt Nam cam kết giảm thuế NK đối với hầu hết linh kiện ô tô xuống 0% vào năm 2018. Các Hiệp định FTA khác vẫn duy trì mức thuế suất thuế NK đối với một tỷ lệ số dòng linh kiện, phụ tùng nhất định tại thời điểm cuối cùng (tỷ lệ số dòng duy trì thuế suất chiếm từ 24% đến 77%, thời điểm cam kết cuối cùng là từ năm 2022 đến 2029 tùy Hiệp định).

Phương án 2: Giảm thuế suất thuế NK MFN của 19 dòng thuế linh kiện là động cơ, hộp số, cụm truyền động, bơm cao áp để lắp ráp cho 2 nhóm xe từ các mức 3%, 5%, 10%, 15% 18%, 20%, 25%, 30%, 32%, 45%, 50% xuống 0% (do đây là một số linh kiện, phụ tùng trong giai đoạn tới Việt Nam chưa thể sản xuất) và giảm thuế suất của 42 dòng thuế thuộc nhóm 8708 (bộ phận và phụ kiện của xe ô tô) để lắp ráp cho 2 nhóm xe nêu trên từ các mức 15%, 20% và 25% xuống 10%. Theo đó, giảm mức thuế suất trung bình của cả bộ linh kiện từ 14-16% xuống 9 – 11% đối với xe dưới 9 chỗ và 7,9% đối với xe tải dưới 5 tấn.

Theo Bộ Tài chính, cả hai phương án đều có ưu điểm khuyến khích DN SXLR ô tô được hưởng lợi thế từ Chương trình ưu đãi thuế giảm chi phí, giảm giá bán để nâng cao sự cạnh tranh so với xe ô tô NK để tăng sản lượng tiêu thụ trong nước cũng như XK. Đồng thời, khuyến khích phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ thông qua việc tăng nhu cầu đối với linh kiện sản xuất trong nước; khuyến khích XK ô tô. Nếu so sánh 2 phương án, phương án 1 sẽ giúp DN giảm chi phí đầu vào nhiều hơn phương án 2, với mức độ ưu đãi thuế NK cao hơn nên tạo thuận lợi hơn cho DN trong việc đạt được sản lượng đề ra của Chương trình.

Tuy nhiên, cả 2 phương án này cũng có nhược điểm là một số DN không có chủ trương mở rộng sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam sẽ khó khăn do không được hưởng mức thuế suất 0% khi NK bộ linh kiện để lắp ráp, các công ty này sẽ thu hẹp sản lượng SXLR và dần chuyển sang NK xe nguyên chiếc để kinh doanh thương mại. Theo đó, sẽ thu hẹp số lượng DN SXLR.

Hơn nữa, các phương án trên cũng chưa thật sự phù hợp với Quyết định số 229/QĐ-TTg. Đặc biệt, việc thực hiện 2 phương án đều có khả năng vi phạm các cam kết WTO căn cứ theo đoạn 177 Báo cáo gia nhập WTO và Điều 3.1 Hiệp định Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO nên có ý kiến lo ngại sẽ có khả năng bị các nước thành viên WTO khiếu kiện hoặc gặp phản ứng từ các DN hoặc đại sứ quán của các nước không được hưởng lợi từ các chính sách này. Tuy nhiên, trong WTO cũng có ngoại lệ nếu việc ưu đãi thuế nêu trên là vì mục đích môi trường, vì vậy, với quy định về điều kiện về tiêu chuẩn tiêu hao năng lượng và tiêu chuẩn phát thải khí thải của mẫu xe cam kết và mục tiêu của chương trình ưu đãi thuế chỉ cho xe tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện môi trường thì sẽ giảm khả năng vi phạm cam kết WTO tương tự như chương trình ưu đãi thuế 05 năm của Indonesia vừa thực hiện năm 2013.

Tỷ lệ tăng trưởng/năm đạt 16 - 18% mới được ưu đãi thuế

Về lộ trình của Chương trình ưu đãi thuế 5 năm, đối với nhóm xe du lịch (xe dưới 9 chỗ), có dung tích xi lanh từ 2.000 trở xuống, sản lượng chung tối thiểu hàng năm đối với các mẫu xe; sản lượng riêng tối thiểu và giá trị sản xuất tối thiểu cho mẫu xe cam kết hàng năm cho 1 DN phải đạt được cho nhóm như sau:

Lộ trình

2018

2019

2020

2021

2022

Tổng giai đoạn 2018-2022

Nhóm Xe du lịch

 

 

 

 

 

 

Tỷ lệ tăng trưởng/năm

16%

16%

16%

16%

16%

 

Sản lượng chung tối thiểu đối với ô tô chở người dưới 9 chỗ, loại có động cơ từ 2.000 cc trở xuống; Tiêu hao nhiên liệu dưới 7lít/100km; Tiêu chuẩn khí thải mức 4 (giai đoạn 2018-2021); mức 5 từ năm 2022 trở đi)

34.00 xe

40.000 xe

46.000 xe

53.000 xe

61.000 xe

234.000 xe

Trong đó phải đạt sản lượng riêng tối thiểu 1 mẫu xe và tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước

20.000 xe và 20 %

23.000 xe và 25%

27.000 xe và 30%

31.000 xe và 35%

36.000 xe và 40%

137.000 xe và 40%

Theo Bộ Tài chính, với lộ trình này, khả năng sẽ có 3 DN đủ điều kiện tham gia chương trình. Tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước đạt 40% (đạt được mục tiêu đề ra của chương trình và Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô).

Đối với xe tải, lộ trình sản lượng chung tối thiểu hàng năm và sản lượng riêng tối thiểu cho 1 mẫu xe cam kết (loại dưới 5 tấn) mà 1 DN phải đạt được cho nhóm xe tải như sau:

 Lộ trình

 

2018

2019

2020

2021

2022

Tổng giai đoạn 2018-2022

Tỷ lệ tăng trưởng

18%

18%

18%

18%

18%

 

Sản lượng chung tối thiểu đối vớiXe tảidưới 5 tấn (thuộc nhóm 8704), cótiêu chuẩn khí thải: mức 4 giai đoạn 2018-2021; mức 5 từ năm 2022 trở đi

8.000 xe

9.000 xe

11.000 xe

13.000 xe

15.000 xe

56.000 xe

Trong đó, phải đạt sản lượng riêngtối thiểu1 mẫu xe đạt và tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước

4.000 xe và 15%

5.000 xe và 20%

6.000 xe

và 25%

7.000 xe và 35%

8.000 xe và 40%

30.000 xe và 40%

Với lộ trình này, Bộ Tài chính cho rằng, khả năng trước mắt sẽ duy nhất chỉ có 1 công ty có khả năng đủ điều kiện tham gia chương trình tuy nhiên nếu các DN khác quyết tâm mở rộng đầu tư, sản xuất thì cũng có khả năng tham gia chương trình. Tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước đạt 40% (đạt được mục tiêu đề ra của chương trình và Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô).

Tạo thêm việc làm, hỗ trợ thu hút đầu tư  

Cũng theo Bộ Tài chính, nếu thực hiện phương án 1 cho cả xe dưới 9 chỗ, loại dung tích xi lanh dưới 2.000 cc và xe tải dưới 5 tấn cho cả giai đoạn 2018 – 2022, tổng số thuế NK sẽ giảm 5.231 tỷ đồng; thuế thu nhập DN (TNDN) thu được do tăng sản lượng 535 tỷ đồng. Tương tự với phương án 2: Tổng số thuế NK giảm 3.505 tỷ đồng; thuế TNDN thu được do tăng sản lượng 535 tỷ đồng.

Đồng thời, số thu thuế NK đối với xe ô tô nguyên chiếc từ ASEAN theo lộ trình giảm thuế suất ATIGA dự kiến giảm hàng năm tương ứng như sau: Xe dưới 9 chỗ giảm cho giai đoạn 2018 – 2022 là 13.069 tỷ đồng, xe tải dưới 5 tấn và xe pickup là 9.187 tỷ đồng. Tổng giai đoạn 2018-2022 cho cả 02 nhóm xe chở người dưới 9 chỗ và xe tải dưới 5 tấn (bao gồm cả xe pickup) là 22.256 tỷ đồng.

Số lượng lao động hiện nay của 3 doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia chương trình như sau: Trường Hải là 22.000 lao động trực tiếp và 60.000 lao động gián tiếp; Công ty Thành Công: hiện tại 3000 lao động dự kiến sẽ phải tăng lên hàng năm nếu quy mô sản xuất mở rộng 5.000 lao động; Công ty Toyota là 1.768 lao động trực tiếp và 410 lao động gián tiếp.

Tuy nhiên cũng theo Bộ Tài chính, trường hợp không thực hiện phương án nào nêu trên thì số thu thuế NK đối với xe ô tô nguyên chiếc cũng sẽ giảm khoảng 22.256 tỷ đồng trong 05 năm 2018-2022 do tác động của việc thực hiện cam kết trong Hiệp định ATIGA (thuế suất thuế NK xe nguyên chiếc từ ASEAN giảm từ 30% và 5% xuống 0%).

Nếu thực hiện giảm thuế NK MFN đối với linh kiện ô tô thì các DN trong nước sẽ tăng sản lượng SXLR xe ô tô nguyên chiếc trong nước. Lượng xe SXLR trong nước tăng lên sẽ giảm bớt được nhu cầu NK xe nguyên chiếc từ ASEAN (số thuế NK đối với xe ô tô nguyên chiếc giảm ít hơn). Việc giảm thuế NK đối với linh kiện ô tô cũng làm giảm số thu thuế NK nhưng số giảm thu (giảm từ 14% xuống 0%) sẽ ít hơn so với số giảm thu từ việc giảm thuế NK xe ô tô nguyên chiếc (giảm từ 30% xuống 0%), đồng thời số thu NSNN sẽ được bù đắp một phần do tăng thu từ thuế TNDN và còn có các tác động gián tiếp tích cực đến kinh tế xã hội trong nước.

Cụ thể, việc thực hiện chương trình sẽ góp phần ổn định việc làm và thu nhập của hàng chục ngàn lao động trong ngành công nghiệp ô tô; thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ, góp phần cải thiện cán cân thương mại…/.

Ngoài đề xuất lộ trình giảm thuế NK đối với linh kiện ô tô NK trong 5 năm từ năm 2018-2022, Bộ Tài chính cũng đề xuất sửa đổi mức thuế đối với xe ô tô đã qua sử dụng NK. Trong đó, thuế NK đối với xe ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (nhóm 87.03), Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh tăng mức thuế NK từ 5.000 USD/chiếc lên là 10.000 USD/chiếc đối với xe ô tô (kể cả xe chở người có khoang chở hành lý chung, SUVs và xe thể thao, nhưng không kể xe van), loại chạy dầu có dung tích xilanh dưới 1.000cc và xe khác.           

Tương tự với xe ô tô có dung tích xilanh từ 1.000cc đến dưới 1.500cc, mức thuế suất được đề xuất bằng mức cam kết WTO là 200% hoặc 150% + 10.000 USD, lấy theo mức thấp nhất.  Đối với xe khác: Tăng mức thuế suất bằng mức cam kết WTO là X + 10.000 USD, trong đó X là mức thuế suất của xe mới cùng chủng loại hàng năm.

Với xe ô tô có dung tích xi lanh từ 1.500cc đến dưới 2.500cc, mức thuế suất được đề xuất bằng mức cam kết là 200% hoặc 150% + 10.000 USD, lấy theo mức thấp nhất. Đối với xe khác: Tăng mức thuế suất bằng mức cam kết là X + 10.000 USD, trong đó X là mức thuế suất của xe mới cùng chủng loại hàng năm.

Với xe ô tô có dung tích xi lanh từ 2.500 trở lên: mức thuế suất tăng bằng mức cam kết là 200% hoặc 150% + 10.000USD, lấy theo mức thấp nhất; nhưng giữ nguyên mức thuế như hiện hành đối với xe khác.

Hoàng Lâm/ Thời Báo Tài chính Việt Nam

Đăng ký nhận tin
Kienlongbank